Lịch sử phát triển Trái phiếu Doanh nghiệp Việt Nam

Có đến 80% nhà đầu tư đều thấy Trái phiếu doanh nghiệp rất mới, bởi họ chưa có kênh nào tương tác mạnh tới trực tiếp họ. Họ hoàn toàn chưa được hỗ trợ tốt nhất để tiếp cận Trái phiếu doanh nghiệp. 

Nhìn vào lịch sử phát triển Trái phiếu Doanh nghiệp Việt Nam chúng ta sẽ thấy mức độ tăng trưởng đáng kinh ngạc về quy mô với chỉ số CARG = 34,8% từ năm 2010 tới 2018. Pháp luật ban hành về điều kiện và quản lý phát hành Trái phiếu Doanh nghiệp chưa có nên các Doanh nghiệp đã tự thực hiện – chủ yếu giai đoạn trước 2009 là do các đơn vị tư vấn nước ngoài xử lý để có vốn chủ yếu cho các dự án xây dựng.

Đến giai đoạn 2009-2011 trước những bước phát triển mạnh mẽ, nhà nước đã ban hành nghị định 90/2011/NĐ-CP chính thức nhằm hướng dẫn và quản lý việc phát hành Trái phiếu Doanh nghiệp vào năm 2011. Tổng giá trị phát hành năm 2010 đạt 30.000 tỷ đồng, đến hết năm 2018 đã đạt 224.000 tỷ đồng tăng 7,5 lần so với 2010.

Các Tổ chức phát hành chủ yếu là các doanh nghiệp lớn và có uy tín trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh của họ hoặc được bảo lãnh bởi các tổ chức uy tín. Các doanh nghiệp này đến từ các doanh nghiệp trong lĩnh vực Bất động sản và ngân hàng chiếm tỷ trọng lần lượt là 21,6% và 23,6%.

Kỳ hạn Trái phiếu của Tổ chức phát hành chủ yếu 01-05 chiếm tới 71.6% và 24.0% với kỳ hạn 05-10 năm. Bởi mục đích huy động vốn của Tổ chức phát hành dùng cho vốn dài hạn, Đặc biệt với các doanh nghiệp bất động sản, vốn sẽ được sử dụng xây dựng các dự án bất động sản có thời gian thu hồi thường 03-05 năm.

Trong các lĩnh vực hoạt động, Ngân hàng là ngành nghề có tỷ lệ Trái phiếu chuyển đổi bằng 0, bởi các tổ chức tài chính này không có nhu cầu chuyển đổi bởi khả năng chi trả của họ là rất cao. Trong khi đó các lĩnh vực khác thì tỷ lệ chuyển đổi cao hơn đặc biệt là lĩnh vực Dược phẩm, Nông nghiệp chiếm tỷ trọng lần lượt là 50% và 43% bởi các cam kết khi phát hành của Tổ chức phát hành hoặc khả năng chi trả trong các lĩnh vực này có rủi ro hơn hay bởi các yếu tố khác.

Cơ cấu nhà đầu tư giai  2012-2018, tập trung vẫn là Ngân hàng thương mại và Công ty Chứng khoán chiếm 70,5% và 15,8%. Trong khi đó Với nhà đầu tư Ngoại thì Quỹ đầu tư chiếm tỷ trọng đầu tư chủ yêu lên tới 42,5%.

Khánh Linh – Safeinvest

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *