Đặc tính của trái phiếu

1. Mệnh giá trái phiếu

Mệnh giá trái phiếu là khoản tiền gốc mà người mua trái phiếu nhận được khi trái phiếu đáo hạn và cũng là khoản tiền mà tổ chức phát hành nhận được khi bán trái phiếu lần đầu. Ở Việt nam, mệnh giá các trái phiếu thường có mệnh giá 100.000 đồng hoặc bội số của 100.000 đồng (ví dụ: 1.000.000 đồng). Còn ở Mỹ, trái phiếu thường có mệnh giá $1000 hoặc bội số của $1000. Mệnh giá của trái phiếu KHÔNG phải là giá trái phiếu bán trên thị trường. Mệnh giá cố định còn giá trên thị trường thường xuyên biến động, có lúc cao hơn, có lúc thấp hơn mệnh giá. Khi trái phiếu được bán với giá thấp hơn mệnh giá thì được gọi là trái phiếu chiết khấu (discount bond), còn khi bán cao hơn mệnh giá thì được gọi là trái phiếu thặng dư (premium bond).

2. Lãi suất của trái phiếu

Khi cầm trái phiếu, nhà đầu tư nhận được khoản lãi coupon định kỳ bằng tiền mặt, tỷ lệ giữa khoản lãi định kỳ là lãi suất coupon. Lãi suất coupon là lãi suất danh nghĩa của trái phiếu nhưng không phải là lãi suất thực mà nhà đầu tư trái phiếu nhận được. Lãi suất thực được tính bằng tỷ lệ giữa khoản lãi coupon hàng năm và giá nhà đầu tư mua trái phiếu. Nếu lãi suất coupon lớn hơn lãi suất vay trên thị trường có cùng kỳ hạn thì trái phiếu trong tay nhà đầu tư trở thành trái phiếu thặng dư (premium bond) và ngược lại, nếu lãi suất vay trên thị trường cao hơn lãi suất coupon thì trái phiếu của nhà đầu tư trở thành trái phiếu chiết khấu (discount bond).

Không phải trái phiếu nào cũng trả lãi định kỳ, trên thực tế trái phiếu không trả lãi định kỳ có thời hạn 03 tháng là trái phiếu phổ biến nhất trên thị trường Mỹ. Trái phiếu này gọi là trái phiếu không-trả-lãi-định-kỳ (zero-coupon bond). Mặc dù được gọi là trái phiếu không trả lãi định kỳ nhưng nhà đầu tư vẫn có lãi khi mua trái phiếu này vì trái phiếu này luôn được giao dịch dưới mệnh giá và phần chênh lệch giữa mệnh giá và giá giao dịch chính là khoản lãi mà nhà đầu tư nhận được.

Lãi suất của trái phiếu khi phát hành phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó đáng chú ý là tình hình lãi suất của khoản vay có cùng kỳ hạn hoặc lãi suất của trái phiếu tương đương trên thị trường. Ngoài ra, kỳ vọng về lạm phát cũng ảnh hưởng đến lãi suất trái phiếu, chẳng hạn lạm phát có xu hướng tăng cao thì tổ chức phát hành cần tăng lãi suất trái phiếu để cạnh tranh với các hình thức cho vay khác. Một yếu tố quan trọng khác là khả năng trả nợ của tổ chức phát hành trái phiếu. Khả năng trả nợ lại phụ thuộc vào uy tín của tổ chức phát hành và thời hạn của trái phiếu. Uy tín càng cao và/hoặc thời hạn càng ngắn thì khả năng đổ vỡ càng thấp nên lãi suất thấp và ngược lại, uy tín càng thấp và/hoặc thời hạn càng dài thì rủi ro vỡ nợ càng cao nên lãi suất càng cao. Tóm lại, lãi suất trái phiếu phụ thuộc vào ba yếu tố chính: tình hình lãi suất trên thị trường, kỳ vọng về lạm phát và rủi ro vỡ nợ của trái phiếu.

3. Thời hạn của trái phiếu

Thời hạn của trái phiếu có  dài từ 3 tháng đến 30 năm, đôi khi một số công ty phát hành trái phiếu có thời hạn 100 năm ví dụ trái phiếu chính phủ Áo, Bỉ, Ai len, Argentina. Ở Việt nam, trái phiếu niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà nội có thời hạn 3, 5, 10, 15 và 30 năm, chủ yếu là các trái phiếu của do các ngân hàng thương mại quốc doanh, tổ chức nhà nước phát hành như Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng đầu tư phát triển (BIDV), Tổng công ty phát triển đường cao tốc Việt nam, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng phát triển Việt nam. Bên cạnh trái phiếu chính phủ, các công ty cũng phát hành trái phiếu có thời hạn phổ biến là dưới 3 năm, 3-5 năm và trên 5 năm. Lượng trái phiếu ở ba nhớm thời hạn tương đối cân bằng. Xét đến thời điểm cuối 2016, lượng trái phiếu doanh nghiệp có thời hạn 03 năm chiếm tỷ trọng lớn nhất là 40%, thấp nhất là trái phiếu có thời hạn dưới 03 năm (chiếm tỷ trọng 27%).

4. Tổ chức phát hành trái phiếu

Chính phủ, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp là các tổ chức phát hành trái phiếu. Về phía chính phủ và chính quyền địa phương tại Việt nam, Ngân hàng phát triển Việt nam, Ngân hàng đầu tư phát triển, Ngân hàng chính sách xã hội, Kho bạc Nhà nước là những tổ chức thường xuyên niêm yết trái phiếu trên sở giao dịch chứng khoán Hà nội (HNX). Bên cạnh đó, một số công ty nhà nước như Tổng công ty phát triển đường cao tốc Việt nam cũng phát hành trái phiếu. Về phía tư nhân, các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán và các tập đoàn lớn cũng phát hành trái phiếu. Tiêu biểu là các ngân hàng thương mại cổ phần như Techcombank, ACB, Bắc Á, các công ty chứng khoán như SHS, SSI, ACBS và các tập đoàn Masan, Hoàng Anh Gia Lai và VinGroup cũng tham gia phát hành trái phiếu. Trong khi tổ chức chính phủ và ngân hàng thương mại và các tập đoàn sản xuất thường có nhu cầu huy động vốn có thời hạn 3 năm trở lên thì các công ty chứng khoán lại có nhu cầu lớn về vốn có thời hạn dưới 03 năm vì sau thông tư 36/NHNN năm 2014, các công ty chứng khoán không được vay quá 5% vốn điều lệ cho mục đích kinh doanh cổ phiếu. Các công ty chứng khoán cần trái phiếu ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay ký quỹ có thời hạn dưới 02 năm. Theo đó, nhu cầu phát hành và bán trái phiếu ngắn hạn của công ty chứng khoán quay vòng 02 năm một lần.

Điều nhà đầu tư thường quan tâm đến tổ chức phát hành là khả năng trả lãi và hoàn lại mệnh giá trái phiếu. Đối với trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương, rủi ro vỡ nợ là rất thấp vì Chính phủ có quyền chủ động về thu thuế và phí. Ngoài ra, trong trường hợp xấu nhất, Chính phủ có thể in tiền để trang trải các khoản nợ bằng tiền đồng. Do đó, trái phiếu chính phủ có thời hạn ngắn có thể coi là không có rủi ro (risk-free). Ngược lại, các doanh nghiệp trong khối tư nhân không có những đặc quyền như các tổ chức của chính phủ và luôn trong vị thế phải đảm bảo luồng tiền phục vụ cho hoạt động trả lãi và hoàn lại mệnh giá nên rủi ro không trả nợ đầy đủ và đúng hạn của trái phiếu công ty cao hơn so với trái phiếu chính phủ. Tuy nhiên, để bù lại cho rủi ro cao hơn là lãi suất niêm yết cao hơn. Ví dụ, các trái phiếu có thời hạn dưới 3 năm do công ty chứng khoán phát hành có lãi suất dao động từ 8-9.5%/năm, đặc biệt là Hoàng Anh Gia Lai vay phát hành khoảng 2700 tỷ đồng trái phiếu với lãi suất lên đến 18%. Một số công ty còn kèm theo điều kiện ưu đãi cho phép nhà đầu tư bán lại trái phiếu cho tổ chức phát hành sau 6 tháng nắm giữ tối thiểu. Lãi suất cao hơn nhiều so với lãi tiết kiệm kèm theo độ thanh khoản cao lý giải cho một loạt đợt phát hành trái phiếu thành công của các công ty chứng khoán trong năm 2016.

Rủi ro không trả được lãi và mệnh giá của trái phiếu thường được gọi là mức/độ tín nhiệm của trái phiếu (credit rating). S&P, Moody’s và Fitch là ba tổ chức hàng đầu thế giới đánh giá về mức tín nhiệm của các trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ niêm yết trên thị trường Mỹ. Các tổ chức này phân chia mức tín nhiệm thành 07 loại theo cấp độ rủi ro thuộc hai nhóm chính: Nhóm đầu tư (investment) và nhóm trái phiếu rác (junk). Một số trái phiếu của Mỹ có hạng cao nhất như Citigroup, cao hơn nhiều so với trái phiếu chính phủ của một số quốc gia phát hành bằng đồng USD như trái phiếu chính phủ Indonesia hay Việt nam niêm yết trên thị trường Mỹ. Các trái phiếu này chỉ thuộc nhóm trái phiểu rác (junk) vì được đánh giá là có rủi ro vỡ nợ lớn. Ở Việt nam, Công ty cổ phần Phát Thịnh Rating được Bộ Tài Chính cấp phép dịch vụ xếp hạng tín nhiệm đầu tiên tại Việt nam vào tháng 07/2017. Nhìn chung, trái phiếu toàn hơn so với cổ phiếu nhưng có những trái phiếu hạng thấp còn có rủi ro ngang thậm chí cao hơn so với cổ phiếu.

Nguyễn Anh Tuấn, MA

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *